Tìm hiểu nền giáo dục xưa và nay

05:41 |
Bài viết của Trương Vĩnh Khánh
Bất cứ một quốc gia, dân tộc nào trên trái đất này, đều có nền giáo dục riêng để đào tạo nhân tài cho đất nước.
Câu nói nổi tiếng của Quản Di Ngô thời Xuân Thu, năm 685 trước Công nguyên, khi ông được phong làm Tể tướng đã hiếm kế với Tề Hoàn Công rằng: “ Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc, Thập niên chi kế mạc như thụ mộc, Bách niên chi kế mạc như thụ nhân”. Nghĩa là: “ Một năm không gì hơn bằng trồng lúa, mười năm không gì hơn bằng trồng cây, trăm năm không gì hơn bằng trồng người”.Kế hoạch trồng người là kế sách để đào tạo nhân tài.

Vậy giáo dục là gì?
Giáo: dạy, rèn luyện ( đào), (tạo) làm.
Dục: nuôi dưỡng
Giáo dục, nghĩa là nuôi dưỡng và dạy dỗ rèn luyện nên người có ích cho đời. Theo “ KINH LỄ” của Khổng Tử chương 18 bàn về Học Ký ( trang 157) ghi rằng: “ Cứ 25 nhà gọi là một “ Lư” có điều lệ nói về việc ăn ở học hành. Một Lư đó có nhà học gọi là “ Thục”.
Cứ năm trăm nhà gọi là một “ Đảng” có điều lệ nói về việc ăn ở học hành.Nhà học của một “ Đảng” gọi là “Tường”.
Cứ một vạn hai ngàn nhà gọi là một “ Châu” nhà học đó gọi là “Tự”.
Riêng ở Kinh đô gọi là “ Quốc học”
Căn cứ theo sử liệu:
Năm thứ 2 sau Công Nguyên ( Nhâm Tuất), nhà Tây Hán sai Tích Quang sang làm thái thú Giao Chỉ. Ông ta cai trị hơn 20 năm và ra sức thi hành chính sách Hán hóa.
Năm 29 sau Công Nguyên ( Kỷ Sửu), Nhà Đông Hán cử Nhân Diêm 25 tuổi làm Thái thú Cửu Chân. Nho giáo bắt đầu truyền vào nước ta.
Như vậy trải qua ngàn năm Bắc thuộc. Việc học do Phong kiến phương Bắc đưa vào để đào tạo người ra giúp việc cho chúng.
A.                NỀN GIÁO DỤC XƯA Ở NƯỚC TA
Tháng mười Âm Lịch năm 938( Mậu Tuất), Ngô Quyền người Đường Lâm( Sơn Tây) đánh tan quân xâm lược Nam Hán kết thúc hoàn toàn thời kỳ mất nước kéo dài hơn một ngàn năm, mở ra thời kỳ độc lập của dân tộc.
Kế tiếp các triều đại phong kiến của Viêt Nam ta đã mở ra các khoa thi để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước (căn cứ theo :” Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” của Ngô Sĩ Liên).
Năm 1075 Ất Mão, năm thứ tư ( Lý Nhân Tông). Tháng 2 mở khoa thi minh kinh bác sĩ và thi Nho học tam trường. Đến năm 1919( thời vua Khải Định nhà Nguyễn) trải qua 844 năm có tất cả 185 khoa thi với 2.896 Tiến sĩ, Phó bảng trong số đó có 47 Trạng Nguyên ( Căn cứ sách giáo khoa 2008 của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo).
Những người đậu Tiến sĩ mới được ra làm quan và một số thì không chịu làm quan chỉ mở trường dạy học như:
CHU VĂN AN ( 1292-1370) thi đậu Thái Học Sinh ( Tiến sĩ) thời Trần, ông không ra làm quan mà ở nhà mở trường dạy học làm thơ. Sau vua Trần Minh Tông mời ông ra dạy học cho Thái Tử Trần Vượng và được cử làm Tư Nghiệp Quốc Tử Giám. Đến thời Trần Dụ Tông, ông dâng “ Thất Trảm Sớ” xin chém đầu 7 gian thần- nhưng nhà vua không nghe. Ông cáo quan về Chí Linh ( Hải Dương) mở trường dạy học và viết sách.
THÂN NHÂN TRUNG (1418-1499) ông đậu Tiến Sĩ năm 1469 ra làm quan đến chức Thượng Thư, Đại học Sĩ Tế Tửu Quốc Tử Giám. Ông đã viết: “ Nhân tài quốc gia chi nguyên khí”. Dịch: “ Hiền tài là nguyên khí quốc gia”.
NGUYỄN BỈNH KHIÊM ( 1491-1585) đỗ Trạng nguyên năm 1553. Ông làm quan đến chức Thượng Thư. Khi triều chính ngày một xấu đi. Ông dâng sớ xin chém đầu 18 gian thần nhưng vua không nghe. Ông cáo quan về dạy học và viết sách. Cuốn “ Thái Ất Thần Kinh” đến nay vẫn còn khó có người đọc được.
NGUYỄN KHUYẾN ( 1835-1909),ông đỗ đầu 3 khoa thi Hương ,Hội và Đình nên được gọi là Tam Nguyên. Năm 1883 vua Tự Đức mất, Pháp đem quân đánh chiếm cửa Thuận An( Huế). Triều Đình ký điều ước đầu hàng. Ông từ quan về quê mở trường dạy học.
Để quản lý ông , Hoàng Cao Khải buộc ông về ( làm gia sư) dạy học cho con hắn.
Như vậy việc học ngày xưa có 3 trường hợp:
Thứ nhất: Nhà nước nuôi cho ăn và học không phải tốn tiền
Thứ hai: Sau khi thi đậu mới được ra làm quan giúp nước.
Thứ ba: Sau khi cáo quan về mở trường dạy học tại quê nhà.

B.                 GIÁO DỤC NGÀY NAY:
Ngày nay gọi là Giáo Dục và Đào Tạo. Như trên tôi đã phân tích. Giáo là: dạy - dục là nuôi – đào là rèn- tạo là làm. Như vậy trong từ giáo là dạy có cả rèn và làm luyện, vậy đào tạo là từ thêm cho rõ nghĩa nếu không nói là thừa.
Ngày nay học sinh đi học nhà nước không có nuôi chỉ trừ trường hợp con em đồng bào dân tộc- ở trường nội trú. Còn tất cả học sinh phải tự túc, gia đình lo – học sinh còn phải nộp tiền cho trường.
Kể từ ngày 2/9/1945 Chủ Tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại vườn hoa Ba Đình “ khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”. Đến nay 2014, gần 80 năm qua theo thống kê của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo năm 2013, nước ta hiện có 24.300 Tiến sĩ và 101.000 Thạc sĩ. Như vậy tổng cộng là 125.300 Tiến sĩ và Thạc sĩ.
Theo thống kê của Cục thống kê công bố ngày 26/12/2013, nước ta hiện có 72.000 cử nhân thất nghiệp.
Như vậy:
Thứ nhất là: Giáo dục là nuôi dạy, ngày xưa chỉ có giáo dục còn ngày nay giáo dục thêm đào tạo nhưng khác hơn ngày xưa. Ngày nay học sinh phải tự túc không được nuôi như ngày xưa. Học sinh đi học phải nộp tiền- còn ngày xưa học sinh được miễn.
Thứ hai là: cán bộ công nhân viên chức ngày nay đa phần xuất thân từ giai cấp vô sản, từ bưng biền tham gia kháng chiến về lãnh đạo , được Đảng và Nhà nước mở các lớp học bổ túc, các lớp chuyên tu. Nên dân gian có câu: “ Dốt như chuyên tu, ngu như bổ túc!!!” Như vậy ngày nay, ra làm cán bộ rồi mới đi học thi lấy học vị .
Đơn cử: Phó bí thư tỉnh ủy Phú Yên NGUYỄN VĂN NGỌC lấy bằng tiến sĩ ĐH Nam Thái Bình Dương chỉ có học 6 tháng với số tiền là 17.000 USD.
Ông DƯƠNG CHÍ DŨNG chỉ tốt nghiệp phổ thông . Năm 1980 ông xuất khẩu lao động sang Cộng Hòa Dân Chủ Đức. Sau khi về nước ông được bố trí làm cán bộ, đi học lấy bằng Tiến sĩ và Đại học cả 2 tấm bằng này ông học vỏn vẹn có 3 năm tại chức trường Đại Học Hàng Hải. Với chức vụ Cục trưởng cục Hàng hải Việt Nam và mức án tử hình về tội tham nhũng- cả nước đều biết.
Ông HOÀNG XUÂN QUẾ - phó Viện Trưởng Viện Tài Chính Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam với tấm bằng Tiến sĩ tại chức giả bị Bộ giáo dục và đào tạo thu hồi vào ngày 04/10/2013 ( tấm bằng dõm).
Ông DƯƠNG PHAN CƯỜNG– Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của trường Đại Học Chu Văn An( Hưng yên)- kiêm hiệu phó của trường, mặc dù cả đời ông chưa có 1 giờ lên bục giảng cũng chưa hề đi du học ở Nga. Thế mà tấm bằng Tiến sĩ của ông được nước Nga cấp thật là kỳ lạ!!.
Do vậy những học vị Tiến sĩ, Thạc sĩ nhất vùng Đông Á nhưng những công trình nổi tiếng trong nước đều do những người chưa học hết cấp 1 làm ra như Thần đèn NGUYỄN CẨM LŨY, hai lúa NGUYỄN ĐỨC HOÀNG.

Thứ ba là:
Những tác phẩm ngày xưa nổi tiếng như truyện Kiều của Nguyễn Du. Thái Ất Thần Kinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi. Mở đất Kim Sơn và Tiền Hải của Nguyễn Công Trứ..v.v..Đó là những vị quan có học vị, có đạo đức và tài năng thật sự.
Ngày nay những công trình như:
Thần Đèn NGUYỄN CẨM LŨY ( Đồng Tháp) chỉ học đến lớp 4 nhưng đã nổi tiếng với những công trình di dời chống nghiêng, chống lún trong xây dựng.
Nông dân NGUYỄN ĐỨC HOÀNG ( An Giang) học chỉ lớp 5 đã chế tạo ra các loại máy gặt đập liên hợp với nhiều tính năng vượt trội, giá thành rẻ.

Qua thống kê, số giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ ở nước ta số lượng nhiều đứng đầu Đông Nam Á. Nhưng về chất lượng các công trình đó đầy tai tiếng như:
Cầu Cần Thơ – cây cầu thế kỷ 21 sập ngày 26/07/2007 khi đang thi công, làm chết 54 người, bị thương 80 người.
Nhìn chung , Thủy Điện Miền Trung- lợi bất cập hại, về việc xả lũ trong mùa mưa. Việc Thủy điện Đăkrông 3 bị vỡ trong năm 2012 khiến nhà trôi, hoa màu bị tàn phá, người chết, hàng vạn gia đình xác xơ. Người dân sống trong phập phồng lo sợ mỗi khi mùa mưa lũ về.
Đường cao tốc làm chưa xong đã xuống cấp.
Đường ống dẫn nước sạch sông Đà về Thủ đô Hà Nội đưa vào sử dụng năm 2009 đến nay đã vỡ 9 lần!!.
Con đường Trường Chinh ở Thủ đô Hà Nội cũng bị nắn cong cong mềm mại!
Còn về văn học, truyện, thơ văn đang chờ…..
Thứ tư là:
Ngày nay đa phần giáo viên chuyển sang làm quan chức nhà nước.
Thầy giáo NGUYỄN TẤT THÀNH dạy học tại trường Dục Thanh ( 1910-1911) ở Phan Thiết. Đó là chủ tịch Hồ Chí Minh- vị lãnh tụ vĩ đại, kính yêu của dân tộc Việt Nam, là anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa lớn của thế giới.
Thầy giáo : VÕ NGUYÊN GIÁP dạy môn lịch sử trường tư thục Thăng Long Hà Nội ( 1933-1939). Vị đại tướng lãnh đạo quân sự kiệt xuất nhất trong lịch sử Việt Nam cũng là một trong những vị tướng giỏi trên thế giới- vị anh hùng của dân tộc Việt Nam.
Thầy giáo PHẠM VĂN ĐỒNG dạy học ở Sài Gòn ( 1927-1928) Vị thủ tướng , nhà chính trị lỗi lạc, nhà ngoại giao kiệt xuất, nhà văn hóa lớn của Việt Nam, vừa là nhà giáo dục với câu nói dành riêng cho thầy cô giáo:
“ Nghề dạy học là nghề cao quí nhất trong các nghề cao quí!!”
Nhưng thực tế hiện nay ở nước ta, đa phần những cán bộ từ thôn xã, huyện tỉnh, thành phố đến Trung ương- xuất thân từ nghề dạy học chuyển sang làm quan chức nhà nước.
Thứ năm là:
Ngày xưa nhà nước phong kiến lập trường để tuyển chọn nhân tài ra giúp nước.
Ngày nay đa số các nhân tài chen nhau ra nước ngoài làm thuê ( chảy máu chất xám).
Đơn cử như Thần đồng Toán học NGÔ BẢO CHÂU đoạt giải toán quốc tế năm 2011.
Nghệ sĩ piano ĐẶNG THÁI SƠN đoạt giải nhất cuộc thi quốc tế năm 1980- đều ra nước ngoài định cư.
C.                VIỆC “ TÔN SƯ TRỌNG ĐẠO”
Truyền thống tôn sư trọng đạo đã có từ lâu thể hiện sâu sắc nền văn hóa phương Đông, đặc biệt là ở nước ta việc “ Tôn sư trọng đạo” thể hiện bằng thái độ tôn quí người thầy là một truyền thống đạo đức tốt đẹp lâu đời của dân tộc Việt Nam.
                   I.                        NGÀY XƯA:
Tôn sư trọng đạo là nét đẹp văn hóa từ xưa vì đất nước thời nào cũng vậy, rất cần người tài, đức giúp nước. Nhưng trước hết phải có người thầy giỏi thì mới có được trò hay.
Đơn cử:
LÊ QUÁT, PHẠM SƯ MẠNH đều là học trò của CHU VĂN AN- cả hai đều đỗ đại khoa đều làm quan to trong triều. Nhưng khi về thăm thầy CHU VĂN AN vẫn giữ lễ thầy trò như xưa- đứng vòng tay cuối đầu nghe thầy căn dặn.

Khi thầy Bảng nhãn LƯƠNG ĐẮC BẰNG mất, học trò là NGUYỄN BỈNH KHIÊM đã chịu tang thầy trong suốt 3 năm trời, thật là sâu nặng nghĩa tình thầy trò hiếm thấy.

Danh sư: LÊ QUÍ ĐÔN thấy gia cảnh BÙI HUY BÍCH nghèo nên giúp luôn việc ăn ở học hành. Năm 1770, Bùi Huy Bích 25 tuổi đỗ Đình Nguyên Hoàng Giáp làm quan đến Hành Tham Tụng ( ngang tể tướng). Khi thầy LÊ QUÍ ĐÔN qua đời, BÙI HUY BÍCH về quê thầy đích thân làm chủ tang lễ. Ông viết văn tế xin trích một đoạn như sau:
“…Xưa học ở đây, nay khóc ở đây. Học trò nhỏ chúng con sinh sau đẻ muộn, may mắn được tới cửa thầy, lúc đầu đã không thể học bể để đi tới bể, từ nay về sau dẫu muốn níu áo hỏi điều chưa rõ thì mờ mịt còn đâu…”. Lời khóc thắm thiết, cảm động, thật đáng cho người đi sau học hỏi!.
               II.                        NGÀY NAY:
Đạo đức của Thầy và trò xuống cấp. Một số vụ học sinh đánh nhau, thầy trò ẩu đả nhau trên bục giảng, trò chặn đánh thầy xuất hiện ngày càng nhiều- gây không ít dư luận trong thời gian qua ở nước ta, hiện nay đang cho thấy thực trạng đáng báo động. Có 4 nguyên nhân chính:
1.                  Đầu tiên là nguyên nhân chính của các trường sư phạm có vấn đề, thi tuyển ồ ạt, không có học sinh giỏi vào ngành sư phạm.
2.                  Nghề sư phạm không được coi trọng( Nhất y, nhì dược, tạm được bách khoa, làm ăn qua loa chui vào sư phạm).
3.                  Nhà trường đào tạo chất lượng kém. Thu nhập giáo viên thấp không đảm bảo cuộc sống.
4.                  Nhà trường,xã hội đang mất sự định hướng về giá trị- cái giá trị đang bị đảo lộn! Học trò hổn láo mà người thầy không đủ năng lực, phương pháp sư phạm, không đủ tình yêu với nghề dẫn đến kết quả đáng buồn như trên!
D.                KẾT LUẬN:
Nước ta hiện nay có trên 24.300 tiến sĩ, 101.000 Thạc sĩ và trên 72.000 cử nhân thất nghiệp, con chém cha, vợ giết chồng, trò đánh thầy. Đạo đức xuống cấp trầm trọng.
Những chứng cứ trên làm chúng ta suy nghĩ về ngành giáo dục và đào tạo của nước ta hiện nay. Trường Đại học thừa, sinh viên dư, thiếu tiến sĩ thật, thừa trường kém chất lượng, thừa tiến sĩ giả, sinh viên tốt nghiệp ra trường dư thừa thất nghiệp phải đi làm công nhân để kiếm sống. Đó là thực tế không thể chối cãi được.

Thành ngữ: “ Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”. Còn đâu?!!!!
Cuối cùng tôi xin chép bài thơ: tặng bạn đọc

TIẾN SĨ GIẤY
NGUYỄN KHUYẾN
Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bản
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh thế mới hời! 
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!
(Còn tiếp)

Lấp Vò, Đồng Tháp

Tìm hiểu về Đức Phật Thích Ca - Phần 4 (tiếp theo)

05:36 |

Kính tặng: Thiền sư THÍCH TRẦN NHIẾP
Bài viết của Trương Vĩnh Khánh

I.       ĐỜI LÀ BỂ KHỔ
Đức Phật đã từng tuyên bố một câu nổi tiếng: “Nước mắt của chúng sanh chìm đắm trong sanh tử luân hồi nhiều hơn là nước của bốn đại dương”. Ngài cho rằng sanh, lão, bệnh, tử là khổ, thân ngũ uẩn là khổ, yêu mà phải xa lìa là khổ, muốn mà không được như ý là khổ, ghét mà phải sống chung là khổ v.v..
Ngài đã can đảm nhìn thật sâu vào bản chất của nỗi khổ, vạch trần nó và phân tích nó một cách chi tiết. Hành động khách quan và tôn trọng sự thật của Ngài khiến cho rất nhiều người cho rằng Đức Phật có một nhân sinh quan yếm thế và tiêu cực.

Nhân sinh quan của Ngài đã tạo ra một làn sóng tranh luận sôi nổi về những quan điểm ấy của Ngài.
Lịch sử triết học đã ghi nhận có ba trường phái được hình thành từ những cuộc tranh luận xoay quanh quan điểm về nhân sanh của Đức Phật.
Đó là: 1. Phái tán thành, 2. Phái phản đối, 3. Phái trung lập.
Trên cơ sở lý luận 1. Phái tán thành thì bảo: “Nếu gọi là chân lý thì đây mới là chân lý. Nếu đi tìm chân lý thì đến bây giờ mới thấy chân lý.”
2. Phái phản đối thì bảo: “Nếu trên trần gian có cái gì là hư ngụy thì không còn thấy đâu hư ngụy hơn, nếu có cái gì hư vọng thì đấy mới đúng là hư vọng”. (Thích Mãn Giác TT)
Sự tranh luận về nhân sanh quan của Đức Phật đã kéo dài hơn 25 thế kỷ. Vô số những nhà học giả, vô số những trang sách vở được trước tác. Tại sao có sự phong phú đó? Những học phái tranh luận theo hai hướng cơ bản.
Hướng thứ nhất cho rằng: Nhân sinh quan của Đức Phật là tiêu cực, bi quan, yếm thế.
Hướng thứ hai cho rằng: Nhân sinh quan của Đức Phật là lạc quan và yêu đời.
Có lẽ cả cách trình bày trên đều không phù hợp với tinh thần của Đức Phật. Ngài không bi quan và cũng chẳng lạc quan.
Ngài chỉ nhìn sự vật đúng với bản chất của nó. Cái nhìn chân thật, cách mô tả chân thật thể hiện nhân sinh quan của Ngài đã tạo ra một bước ngoặt vĩ đại trong văn hóa nhận thức về nhân sinh của con người.
Đóng góp đầu tiên và lớn lao nhất của Đức Phật cho văn hóa nhân loại là cái nhìn thâm trầm, thống thiết về nhân sinh.
Đức Phật cho rằng sự tồn tại trong mê muội là đau khổ. Theo Ngài thì rất ít người phá vỡ được sự mê muội đó để tìm thấy hạnh phúc. Nhìn chung cuộc tồn sinh của nhân loại bị bao vây bởi nhiều nổi khổ.
Chính vì thái độ quá thực tế của Đức Phật mà hơn 25 thế kỷ qua Ngài đã bị nhiều sự ngộ nhận rất đáng tiếc về quan điểm nhân sinh.
Càng thâm trầm hơn khi Ngài công khai thừa nhận khổ đau và hạnh phúc chỉ là tương đối nó mang tính chuyển dịch và biến đổi không ngừng. Quan điểm của Ngài là: “Tất cả tồn tại đều vô thường, vì vô thường cho nên đau khổ.”
Tóm lại: “Đức Phật cho rằng nếu có hạnh phúc, vẫn là hạnh phúc bị bao phủ, kiềm tỏa và đe dọa bởi đau khổ là điều hòan tòan chính xác.”
Đức Phật cho rằng người trí là người hiểu được qui luật vô thường, không bị ngỡ ngàng và sốc trước quy luật vô thường. Vì vậy họ tận hưởng một cách đúng đắn những giây phút hạnh phúc trong cuộc đời họ, đồng thời, cá nhân ấy cũng có được một sự mạnh mẽ, chủ động và can đảm đối đầu với những điều bất như ý xảy đến. Những người hiểu rõ qui luật vô thường sẽ không bị nô lệ vào cảm giác thái quá, sống minh triết và trí tuệ thì theo Đức Phật những người đó sẽ có hạnh phúc thật sự.
Đức Phật tuyên bố:
“Chân lý tuyệt đối chính là cái không có gì tuyệt đối trên thế giới này, mọi cái đều tương đối, bị qui luật và vô thường.”
II.    GIÁO LÝ VÔ NGÃ CỦA ĐỨC PHẬT
Ngoài việc tuyên bố về sự thật của nỗi khổ. Đức Phật còn đưa ra “Học thuyết vô ngã” đã tạo nên sự tranh luận chưa bao giờ chấm dứt trong suốt 25 thế kỷ qua.
Theo Đức Phật, không có một chữ ngã (Atman) thực sự và chắc chắn là cũng không có một linh hồn. Ngài đưa ra thuyết vô ngã, vô linh hồn, đã mở ra cho nhân loại con đường tự do tư duy trong quá trình nhận thức.
Đức Phật đã gởi đến nhân loại một thông điệp:
“Chúng ta có quyền hoài nghi, dám đảm xét lại những điều mà nghìn đời cho là bất di, bất dịch, dám đưa ra những quan điểm mới và dám bảo vệ nó.
Nếu như Đức Phật còn giữ lại những khái niệm về nghiệp (Karma) về pháp (Dharma), luân hồi (samsara) và giải thoát (moskha) của Ấn giáo và Ngài đã thực hiện một cuộc cách mạng triệt để. Ngài cho rằng chắc chắn và dứt khoát không có một thực thể được gọi là Ngã (Atman) trên phương diện cá nhân cũng như trên phương diện tòan thể. Khi đã không còn Ngã (Atman) thì cũng chẳng còn sự đồng nhất giữa Ngã (Atman) và Đại Ngã (Brahman).
“Lý tưởng phấn đấu tiến đến quá trình giải thoát theo quan niệm của nhân dân Ấn Độ thời đó đã bị Đức Phật phũ nhận hòan tòan. Học thuyết Vô Ngã vì thế là một học thuyết của riêng Đạo Phật, đó là một điểm cơ bản nhất trong vô số điểm nhằm để phân biệt Phật Giáo với các tôn giáo khác.”
Vì không có linh hồn trường tồn sau khi phân hoại, nên tái sinh không diễn tiến theo hình thức linh hồn luân chuyển đầu thai vào một thân xác mới mà do một chuỗi liên tiếp các nhân duyên tạo điều kiện sanh khởi (schurmann.306)
Quan điểm linh hồn của Đức Phật là hết sức rõ ràng.
Ngài xác nhận thân thể này được tạo thành bởi năm yếu tố mà Ngài gọi là: Ngũ uẩn gồm: sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Theo Đức Phật: “Ngũ uẩn là vô thuờng cho nên không thể có một linh hồn, một cái Ngã (Atman) thường hằng bất diệt”.
Đó là một cống hiến độc đáo của Ngài, bởi lẽ làm gì có cái gọi là linh hồn bất diệt, trong dòng chảy vô thường đó. Nói một cách rõ ràng hơn, không thể có cái gọi là “thường” trong thế giới vô thường.
Cho nên quan niệm về Ngã (Atman) một linh hồn trường cửu cũng hoang đường và phi lí như việc “chèo thuyền trên non” vậy.
Nhưng nếu quả thật có một linh hồn linh thiêng trường cửu và bất biến thì tại sao linh hồn đó vẫn vấp phải những sai lầm trong quyết định lựa chọn đầu thai của mình?
Một nghịch lý lớn lao nhất là đòn chí tử làm lộ rõ tính phi lý của những tôn giáo thừa nhận có linh hồn: “Nếu như có hai dạng linh hồn, một là được lên thiên đàng vĩnh cửu sau khi chết và một dạng đi xuống hỏa ngục đời đời theo những sự phán quyết của Đấng tối cao. Như vậy:
“Chắc chắn sẽ xảy ra hiện tượng một ngày nào đó sẽ không có linh hồn nào cho Đấng tối cao phán xét nữa. Vì Đấng tối cao đã tập hợp hết linh hồn vào thiên đàng và địa ngục rồi thì làm gì còn có một linh hồn nào để Ngài phán xét. Khi đó, rõ ràng nhân loại sẽ không còn hiện hữu vì đâu có “phần hồn” để tạo nên con người.”
Như vậy sự tồn tại về một linh hồn trường cửu là một lý thuyết hoang đường nhất mà nhân loại trong thế giới hữu thần có thể tưởng tượng ra.
Quan điểm thân ngũ uẩn là vô thường của Đức Phật. Theo Ngài, không có cái gì là thường trong năm yếu tố đó. Bởi vì ngũ uẩn biến đổi liên tục thì làm sao có thể có cái gì đó tĩnh tại trong ngũ uẩn, hoặc ẩn chứa đằng sau ngũ uẩn. Vì ngũ uẩn là động, là biến đổi liên tục cho nên ngũ uẩn là vô ngã. Trong năm thành phần (ngũ uẩn) tạo nên thân thể con người, thì “sắc” là yếu tố thuần chất. Những yếu tố còn lại như: thọ, tưởng, hành và thức là thuộc về tinh thần.
Nếu như tìm hiểu trong 4 yếu tố thì khái niệm về “Thức” rất gần gũi với linh hồn. Do vậy về sau nhiều nhà Phật học đã mặc nhiên hiểu về “Thức” như hiểu về linh hồn. Vì “Thức” sẽ đi đầu thai, sẽ mang lấy nghiệp của kiếp trước, sẽ tạo ra nghiệp trong tương lai v.v..
Nhưng sự thật không phải là như vậy.
“Đức Phật đã phủ nhận không thương tiếc lối tư duy này Ngài cho rằng, nếu vì mê lầm mà cho rằng thân xác vật lý này là linh hồn thì còn đỡ sai lầm hơn việc cho rằng  “Thức” là linh hồn”. Theo kinh điển, Đức Phật đã giải thích về thức như sau:
“Đơn giản vì cái gọi là “Thức” là tâm ấy biến đổi liên tục, biến đổi trong từng sát na, nhanh hơn nhiều lần so với sự biến đổi về thân xác. Xem cái biến đổi liên tục như vậy là một linh hồn vĩnh cửu thì cũng chẳng khác gì đi tìm sự tồn tại vĩnh cửu ở bong bóng nước, đi tìm sự bất tử ở loài phù du”
Như vậy rõ ràng vì mọi thứ đều là vô thường, đều là biến đổi liên tục, nên không có một cái “ngã” vĩnh viễn, không có một linh hồn vĩnh viễn. Đó là một sự thật dù sự thật này trái ngược với ước mơ tồn tại vĩnh viễn của loài người.
Vậy không có linh hồn thì cái gì đi đầu thai để trở thành một kiếp sống khác?
Vấn đề ở đây là: Tại sao phải mặc nhiên chấp nhận quan điểm “Linh hồn đi tái sanh” tại sao không tư duy theo phương thức gần với sự thật hơn?
Theo Đức Phật: “Thân là chủ nghiệp, thân là thừa tự của nghiệp” đó là một sự thật.
Nhưng cái gọi là thân đó theo Đức Phật chỉ là thân “ngũ uẩn” giả hợp, không có thật, vì không có thật cho nên không thể tồn tại vĩnh viễn. Vì vậy trong cuộc sống mỗi cá nhân đều có quyền tạo dựng và chuẩn bị cho mình để tái sanh trong tương lai.
Khi “Thức” của một con người đi tái sanh vào một bào thai mới, tùy theo nghiệp của “Thức” đó mà có sự hiện hữu ở các cấp độ khác nhau của tái sanh.
Nhưng khi các yếu tố hình thành nên con người, mới đã được thiết lập, thì đã có một hòan cảnh mới, một nhân duyên mới, một tồn tại mới phát sinh. Như vậy, con người mới không phải là con người cũ.
Bằng điểm lý luận siêu việt này, Đức Phật đã phủ nhận cái ngã vĩnh cửu. Nhưng con người mới (hay là thân Ngũ uẩn này) vẫn có mối liên hệ với thân cũ thông qua “Thức” đi đầu thai do nghiệp (nghiệp định hướng cho sự lựa chọn đầu thai của “Thức”
Khi thân ngũ uẩn mới được hình thành nó có một “Thức” mới trong một điều kiện và hòan cảnh mới.
Như vậy, giữa thân cũ và thân mới có một nhịp cầu là “Thức”.
“Thức” cũ sẽ chuyển “nghiệp” vào thân mới thông qua tái sanh, và như thế một đời sống mới được hình thành.
Trong quan điểm độc đáo này Đức Phật đã bác bỏ được cả hai quan niệm “Chết là hết” và “Chẳng có nghiệp báo gì cả”.
Tóm lại: Rõ ràng theo Đức Phật, giữa thân trước và thân sau khi tái sinh không phải là một.
Nhưng chúng không phải là hai thực thể hòan tòan độc lập mà giữa chúng có mối quan hệ thông qua “Thức” làm điều kiện chuyển sanh và chuyển nghiệp.
“Thức” không phải là linh hồn vì bản chất của linh hồn là trường cửu, còn “Thức” trước và sau khi tái sinh tuy có mối liên hệ làm điều kiện chuyển sanh giữa hai cá thể nhưng lại rất khác nhau, vì chúng không phải là một. (Kinh điển III)
Lý luận khúc chiết, tinh vi và mô tả  chính xác với những gì đang diễn ra về vấn đề sanh tử của Đức Phật, khiến cho giới học giả bàng hòang kinh ngạc vì 25 thế kỷ trước có một đầu óc uyên thâm và kì vĩ đến thế. Họ không thể tưởng tượng nổi trên thế gian trần tục này, lại có người lý luận về sanh tử mô tả về hiện tượng sanh tử sống động và chính xác đến như vậy.
Nhận thức về quá trình sinh tử của Đức Phật đã tạo ra được nguồn cảm hứng vô tận cho vô số tác phẩm văn hóa được hình thành. Quan điểm về sự mong manh và vô thường của cuộc nhân sinh đã tạo nên một cái đẹp bi tráng về kiếp người chính ngay những phù du đó, con người tự đứng một mình, tự nổ lực vươn lên, lao động và sáng tạo không mệt mỏi để tìm thấy hạnh phúc cho mình và cho muôn loài.
III. VĂN HÓA NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ CỦA ĐỨC PHẬT ĐỐI VỚI VẤN ĐỀ TỘI ÁC
Liệu có tồn tại khái niệm “Tội lỗi” trong quan điểm của Đức Phật không?
Trên căn bản lý luận “Tội lỗi xuất phát từ con người” nhiều nhà sáng lập tôn giáo, nhiều triết gia đã quan niệm về tội lỗi rất khác nhau.
Truyền thống văn hóa Do Thái, Ki tô giáo thừa nhận sự hiện hữu của loài người từ thuở lồng hoang. Sự ra đời của con người đã là một tội lỗi. Vì thế họ đã nghĩ ra cách làm lễ rửa tội cho những đứa trẻ mới chào đời, các giáo sĩ và linh mục rửa tội cho các con chiên.
Riêng Phật giáo theo kinh điển Đức Phật chưa bao giờ xem sự hiện hữu của loài người như là một tội lỗi. Theo Ngài sự hiện hữu của loài người là do vô minh và tham dục nên sự hiện hữu đồng nghĩa với khổ  đau.
Như vậy đối với Đức Phật, hiện hữu không phải là một vấn đề tội lỗi, hiện hữu chỉ là khổ đau. Quan điểm của Ngài khi mỗi cá nhân hiện hữu chỉ là khổ đau. Quan điểm của Ngài khi mỗi cá nhân hiện hữu trên cuộc đời này thì đồng thời cá nhân ấy cũng có được một cơ hội để phấn đấu, rèn luyện nhằm vượt qua khổ đau và chiến thắng khổ đau.
Đức Phật nói: “Làm được thân người là khó.”
Ngài tự cho rằng mình là người sống hạnh phúc trên cõi đời .
Vì không quan niệm về sự hiện hữu của con người như là một tội lỗi, nên vấn đề rửa tội cho trẻ em đã không bao giờ được đặt ra trong đạo đức học của Phật giáo.
Theo Đức Phật “Người ta không thể “Rửa” một tội không có trong thực tế”.
Đức Phật dạy các đệ tử: “Này các Tỳ Kheo, hay nương tựa nơi chính mình, không nương tựa, một ai khác (Kinh Tương Ưng)
Trước khi nhập Niết Bàn, Đức Phật đã cẩn thận dặn dò A Nan (Ananda) một lần nữa về chân lý ấy.
Về vấn đề cầu khẩn, tụng kinh, lập đàn chay để xin ban phúc, giáng họa và tiêu trừ tội lỗi, việc này đối với quan điểm của Đức Phật là mê muội và hoang đường.
Kinh tạng Pali thuật lại:
Một Bà la Môn hỏi Đức Phật “Một người lúc sống làm điều ác, khi chết con cháu lập đàn cúng tế, cầu nguyện để làm tiêu trừ tội lỗi của người ấy có được không?
Đức Phật trả lời: “Việc cầu cúng và tụng kinh đó cũng ngu dốt và hoang đường như việc một người lăn một hò đá to xuống dưới hồ rồi cầu nguyện cho chúng nổi lên, theo Ngài việc làm ấy cũng mê muội như việc đổ dầu lên mặt nước rồi cầu nguyện cho dầu chìm xuống.”
Nhưng thật đáng tiếc khi nhắc đến Phật giáo, đa số nghĩ ngay đến việc: cầu cúng, tụng kinh, siêu thoát.
Đó là những việc làm mà lúc còn tại thế Đức Phật đã phản đối kịch liệt. Ngài bảo việc cầu cúng tụng kinh ngu dốt và hoang đường.
Will.Durant đã nhận xét về việc các sư sãi cúng cầu khẩn, tụng kinh, lập đàn chay để xin ban phúc xuyên tạc phản bội quan điểm của Phật bằng một câu nói nổi tiếng:
“Đời sống của các bậc vĩ nhân nào sau khi chết cũng bị hậu thế làm sai hẳn đi, mất chân tướng một cách nhơ nhớp. (Will Durant 2004-258)
Đức Phật dạy rằng, muốn tránh tội lỗi và thoát khỏi tội lỗi thì phải giữ: Thân, miệng và ý nghĩ. Tránh những việc làm ác độc, miệng đừng nói ác, tránh những suy nghĩ ác. Nhưng nếu cá nhân đã lỡ gieo nhân ác độc rồi dù cá nhân ấy trốn lên núi cao hay trốn vào biển sâu cũng không thoát được quả báo.
Đồng thời Ngài cũng dạy con người biết ăn năn hối cải, biết làm lành tránh dữ một cách chân thành tha thiết thì tội lỗi trong quá khứ sẽ giảm dần và có thể tiêu diệt?
Quan niệm về tội lỗi và cách giải trừ tội lỗi có 2 điểm:
Thứ nhất: Không phải “Cứ gieo nhân nào thì nhất định phải gặp quả đó”. Vì con người vẫn có cơ hội để khắc phục sau khi đã lỡ phạm lỗi.
Thứ hai: Phật dạy chỉ có con người mới có thể đem lại hạnh phúc và đau khổ cho mình.
Hạnh phúc và đau khổ của con người không bị phụ thuộc vào thần linh hay Thượng Đế.
Tóm lại: Bằng một trí tuệ sắc sảo, một lòng từ bi rộng lớn Ngài đã dạy cho nhân loại con đường quay về với nẻo thiện, để làm đẹp cho mình và cho đời.
(Còn tiếp)

Lấp Vò, Đồng Tháp

Cái nghèo qua thơ của Tam Nguyên Yên Đổ

08:59 |
Bài viết của Trương Vĩnh Khánh
            Nguyễn Khuyến còn có tên Nguyễn Thắng sinh năm 1835 mất năm 1909. Người làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Nam Hà. Ông là học trò của cụ Phạm Văn Nghị hoàng giáp người làng Tam Đăng, tỉnh Nam Định.

           Năm 1864 Nguyễn Khuyến thi hương đỗ Giải nguyên.
Năm 1871 đỗ Hội nguyên, vào thi Đình, đỗ luôn Đình nguyên. Do đó, người ta gọi ông là Tam nguyên Yên Đổ. Năm 1872 ông được bổ làm quan ở Huế.
Ngày 16 tháng 6 năm Quí Mùi (1883) Tự Đức mất.
Ngày 25 tháng 7 năm 1883 Triều đình Huế ký với Harmand điều ước Quí Mùi chấp nhận sự đô hộ của thực dân Pháp. Lúc này Nguyễn Khuyến đang giữ chức Trực học Sĩ sung Toản tu Quốc sử quán.
Khi Tự Đức mất trong 2 năm đã trải qua 4 đời vua: Dục Đức (3 ngày), Hiệp Hòa (4 tháng), Kiến Phúc (6 tháng).
Ngày 1 tháng 8 năm Giáp Thân (1884) Hàm Nghi lên ngôi. Nguyễn Khuyến được cử làm quyền Tổng đốc Sơn Tây, ông lên đường nhậm chức nhưng đi chưa đến nơi thì vin cớ đau mắt cáo quan xin về hưu ở làng Yên Đổ vừa mới 50 tuổi – sau 12 năm làm quan.
Gia tộc Nguyễn Khuyến vốn gốc xứ Nghệ di cư ra vùng chiêm trùng Sơn Nam Hạ, vùng quê nghèo, mà gia cảnh của ông cũng nghèo.
Qua bài viết này tôi xin trình bày cái nghèo của cụ Tam nguyên Yên Đổ qua thơ văn của ông!
Nhà thơ Tam nguyên có một bản lĩnh rất phong phú, thơ Nôm của ông không thể nói hết được cái khó, cái nghèo của một đại quan khi nghỉ hưu non vừa mới 50 tuổi, giữa một thời đại khủng hoảng toàn diện, trước hết và chủ yếu là khủng hoảng về hệ tư tưởng – văn hóa, không phải chỉ vì bỡi cuộc xâm lăng của thực dân Pháp – mà còn bỡi sự biến loạn trong lòng dân tộc. Ông đành chấp nhận cái nghèo cáo quan về hưu không chịu hợp tác với giặc Pháp.
Chúng ta cần phải tổng hợp cả thơ Nôm và thơ chữ Hán mới thấy rõ được phần nào cái nghèo cái khổ của ông. Chúng ta rất cảm động trước sự phấn đấu nội tâm của ông để giữ được phẩm cách, để đạt đến sự cao khiết – ông là người rất chân thật, nhưng cũng rất hóm hỉnh, sâu sắc, sau khi về nghỉ hưu non đã thốt lên: - Chẳng kham lo bệnh lại lo nghèo!”
Nguyễn Khuyến thốt lên: - “Tay cầm miếng thịt ôm mặt khóc”. Ôi! Có cái bi kịch nào đắng cay thâm trầm và tế nhị đến như thế này! Nhà thơ đã khóc ở một miếng thịt tất cả những nỗi cự nhục ở trên đời này và tôi cũng đã nghẹn ngào khi đọc qua đoạn này!
Thói thường ở đời người ta tặng quà cáp là để mua chuộc lợi dụng nhau. Ở đây ta thấy chỉ vì sự cảm thương quí mến nhau mà cho thịt. Vì lúc này cụ Yên Đổ nghỉ hưu nghèo đói, đau ốm, già cả không làm được việc gì – Nếu không nhận không ăn thì bị đói và gầy, như vậy miếng thịt đến không vẩn đục.
Tuy vậy khi Nguyễn Khuyến nhận miếng thịt vẫn cứ khổ tâm đến nỗi phải “ôm mặt khóc!”.

Nguyễn Khuyến sống giữa bối cảnh ngoài xã hội bị thực dân Pháp đô hộ - giặc giã triền miên dân tình đói rét. Trong nhà cụ Yên Đổ cũng lâm vào cảnh nghèo, trong mình bệnh tật qua bài:
Việc vứt bỏ chốn quan trường đối với Nguyễn Khuyến là một việc nhẹ nhàng, nhưng khi về hưu tâm trạng của ông không hoàn toàn thanh thản – vừa ảm đạm vừa phân mang! Ở ông có cái cảm giác tủi thân trách phận – vì già, vì đau yếu, mắt mờ phải bỏ dở việc lớn, cùng sự kinh hãi về cuộc đời dâu bể, đất nước loạn ly, trộm cướp hoành hành. Ông phần lo đói nghèo – “Cháo rau không đủ bữa”.
Phần lo đối phó với bọn quan lại làm tay sai cho giặc Pháp. Nguyễn Khuyến cáo quan về hưu non đâu có được yên thân dễ dàng. Theo sự chỉ đạo của quan Thầy Pháp – Vũ Văn Báo Tổng đốc Nam Định ép cụ trở ra làm quan – nên Nguyễn Khuyến dành phải cho con mình là Nguyễn Hoan (đậu phó bản) ra làm quan thay mình.
Để quản lý cụ, Hoàng Cao Khải – Kinh lược Bắc Kỳ đưa cụ về dinh làm gia sư – để quản chế cụ.
Với những nỗi đau trên qua bài “Xuân bệnh”

Cái đòn đánh chua cay trào lộng của bác hủ kho gàn dở Yên Đổ vị gia sư nghèo khỏ kiếm cơm!
Một vị Tam nguyên tài cán thực sự còn kém xa thằng đi ở đợ ư?!
Một vị quan triều Nguyễn như cụ bị bắt đi làm gia sư danh vọng may ra hơn đứa ăn mày à?
Ôi! Oái ăm! Cay đắng tột cùng! Một sự so sánh ví von cay cú đó chính là sự nhen nhóm một âm hưởng trữ tình mới mẻ, nó toát lên một ý nghĩa thẩm mĩ mới, những sắc thái tương phản xâu xé trong tình cảm của Nguyễn Khuyến cho ta thấy ông đang ở vào một hoàn cảnh không thể giấu được nữa! Và từ nay ông sẽ thẳng thắng đối diện với nó – Nguyễn Khuyến đã chán cảnh một việc lặn lội vất cả - ông tự thấy cảm thương mình về hưu – thường đau yếu, nhà thì nghèo!, qua bài:                            
Nghèo và ốm, tóc bạc vì u sầu cụ Yên Đổ phải chấp nhận, vì nỗi buồn giày vò ông trong cảnh nhà nghèo. Ông nhớ lại khi xưa mình là vị quan đường đường ở chốn triều đình, giờ đây ốm nghèo khốn khổ qua bài:

Ông đã nêu lên sau ngày treo mũ từ quan, cảnh nghèo ốm ập đến đáng thương cái già đến, trong thời buổi loạn ly chẳng còn quyển sách nào mà đọc nữa!
Trong cảnh sống nghèo ốm Nguyễn Khuyến đã đồng cam cộng khổ “ba cùng” với dân quê – Thơ Nôm của ông phản ảnh dân tình có một sắc thái đậm đà, đằm thắm – ông cũng ăn uống kham khổ:
Qua bài: “MẤT MÙA”
Năm nay cày cấy vẫn chân thua
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
Chợ búa trầu cau chẳng dám mua!
Vị quan to về hưu đã trở thành lão nông thực thụ cũng tính toán chi li – vì chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa, phần thuế phần trả nợ vì ăn vay cày trả - nên cụ Yên Đổ phải đành sớm trưa dưa muối cho qua bữa và ngay cả trầu cau cũng chẳng dám mua khi đi chợ trong cảnh sống khốn khó đó – nên khi “BẠN ĐẾN CHƠI NHÀ”, nhà thơ Yên Đổ đã viết:
“Đã bấy lâu nay bác tới nhà
Trẻ thời đi vắng, chợ thời xa
Ao sâu nước cả, khôn chài cá
Vườn rộng rào thưa khó đuổi gà
Cải đã tàn cây, cà chưa nụ
Bầu vừa rụng rốn – mướp đương hoa
Đầu trò tiếp khách, trầu không có
Bác đến chơi đây – ta với ta!”
Do cụ Yên Đổ quá nghèo! Ngày ăn hai bữa sớm và trưa chỉ có dưa muối mà thôi! – và có đi chợ thì trầu cau cũng chẳng dám mua – cho nên khi bạn đến nhà chơi thì làm gì có trầu cau để tiếp bạn – nên: - “Đầu trò tiếp khách trầu không có”
Bạn đến nhà chơi – Nhưng cụ Yên Đổ nghèo không có gì để thết bạn thì làm một bài thơ để tặng bạn. Qua bài thơ ta thấy nhà cụ Yên Đổ cái gì cũng có – nhưng chẳng có cái gì hết!! Bài thơ đã bóc dần những nghi thức xã giao màu mè của xã hội, để cuối cùng, khi những lớp vỏ hình thức không còn gì nữa thì chúng ta thấy hiện lên một tình bạn hết sức cao quí, hết sức đẹp đẽ, trong cảnh nghèo tiếp bạn – “Bác đến chơi đây ta với ta”. Như vậy cái ý nghĩ của cụ rất rõ – Tình bầu bạn tự nó đã là một bữa tiệc tinh thần – bạn bè gặp nhau vui sướng nhìn nhau cũng đủ no rồi – ông quan Tổng đốc về hưu ở vùng chiêm trũng chấp nhận cái nghèo. Ông trở về vùng nông thôn, đồng ruộng không phải chỉ thông cảm với nông dân mà chính mình là nông dân hóa, ông làm ăn như một nông dân với “chín sào tư thổ” gia cảnh 4 vợ 7 người con (5 trai) và hơn 10 người cháu.
Ông là một nhà thơ nghèo nhưng giàu lòng yêu nước, nhà thơ lớn của dân tộc rất cận nhân tình và là nhà thơ của nhân tình, nhà thơ của đồng quê – ông bảo trọng khí tiết mà cam chịu sống trong cảnh nghèo qua bài:
“NGÀY XUÂN DẠY CON HỌC
Năm mới vừa sang, năm cũ qua
Tuy nghèo, ta vẫn mến nhà ta
Chín sào tư thổ là nơi ở
Một bó tàn thư ấy nghiệp nhà”
(Trích)
Với chín sào tư thổ nhưng nhà đông miệng ăn – tuy nghèo nhưng ông luôn bảo trọng khí tiết của nhà nho – “Một bó tàn thư ấy nghiệp nhà”, của cụ Tam nguyên. Một gia thế có nhiều Tiến sĩ, phó bản.
Trước khi về lại quê nhà ông là người nuôi chí lớn, nối nghiệp ông cha là việc lớn:
“Vốn lắm chí xông pha trời thẳm
Đâu phải là diều, én, sẻ hay?”
                                    (Vân ngoại bằng đoàn)
Nhưng sau khi về lại Yên Đổ - ông đau với cái đau mất nước, với niềm thương cảm đối với cuộc đời lầm than tủi cực của nhân dân sống trong vòng nô lệ của thực dân Pháp. Ông có cái khát vọng đổi đời có lợi cho dân cho nước – cả cái tâm thể khăng khăng lánh đục tìm trong – bất hợp tác với kẻ thù – đành chấp nhận sống trong cảnh nghèo. Ngay đến tiếng cười chảy nước mắt của cụ Yên Đổ cũng chính là một phương diện biểu hiện lòng yêu nước của cụ với những câu thơ độc địa như bài: “GÁI RỬA MÔNG BỜ SÔNG
Vun vén giang sơn một cặp tròn
Nghìn thu be tát mãi không mòn
Biết chăng chỉ có ông Hà Bá
Mỉm mép cười thầm với nước non!
Hoặc:
Ba vuông phấp phới cờ bay dọc
Một bức tung hoành váy xắn ngang
                                                (Lấy Tây)
Cái hiểm hóc, oái ăm của cụ Yên Đổ ở nội dung, ở phong cách tinh tế, kín đáo càng thể hiện lòng yêu nước non. Cụ căm ghét bọn lấy Tây – đĩ điếm. Cụ chế nhạo qua câu thơ cay cú hiểm hóc trên!

Cụ yên Đổ từ quan chấp nhận cái nghèo qua bài: TỰ THUẬT
Cụ Yên Đổ sống trong cảnh nghèo bệnh tật, phần già cả ăn uống kham khổ qua bài:
Cụ Yên Đổ sống trong cảnh nhà thì nghèo túng, thân đau ốm, tuổi thì già – do mất mùa – trong cảnh đời nhiễu nhương cụ đành ăn uống kham khổ, tấm cám cho qua ngày đoạn tháng, an ủi tuổi già đâu có còn mơ đến tước lộc quyền uy! Phần tuổi già, phần bệnh tật qua bài
 “HÀN VŨ” (Mưa tạnh).
“Trời hắt hiu mưa phùn gió bấc
Tựa ghế ngồi, bệnh tật ngày tăng
Tiếng ho như hạc kêu sương
Rét tìm hơi ấm, mèo vàng rúc chăn”
                                                (Trích bản dịch)
Sống trong cảnh nghèo bệnh tật nhưng cụ Yên Đổ an ủi là mình giàu thơ, giàu đạo qua bài: “NHÀN VỊNH
“Mạc thán bắc môn bần thả lũ
Thi du đạo phú vị vi bần”
Nghĩa là:
            “Đừng có than van, ra từ cửa Bắc nghèo và khổ
Giàu thơ, giàu đạo, chưa thể coi là nghèo”
            Để tạm khép lại bài viết này, tôi xin nêu bài thơ “Khóc vợ” của cụ Yên Đổ sống trong cảnh già nua, bệnh tật nghèo túng, vợ thì mất nơi đất khách quê người qua bài:

LỮ THẤU KHỐC NỘI (KHÓC VỢ CHÔN NỚI ĐẤT KHÁCH).
Nỗi đau xé lòng của “Thi sĩ đồng quê” cho ta thấy hình ảnh tuổi già sống trong cảnh nghèo được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần trong thơ – đã minh chứng cho tấm lòng bận bịu trong cuộc sống đời thường của cụ Yên Đổ. Theo thống kế 249 bài thơ của Nguyễn Khuyến sáng tác khi về hưu ở Yên Đổ cho ta thấy tuổi già sống trong cảnh nghèo khổ đã xuất hiện 53 lần, chiếm tỉ lệ 21,28% (phần thống kê này được Nguyễn Văn Huyền NXB Khoa học xã hội Hà Nội 1984 về tác phẩm Nguyễn Khuyến lập ra) nhà thơ rất tài hoa và cũng là rất nghèo!
Tóm lại: Với tài năng và tấm lòng, nhà thơ dân tộc Nguyễn Khuyến đã để lại cho đời những kiệt tác về quê hương, về tình bạn, tình yêu về thế sự. Đó là những viên ngọc quí lung linh trong vườn hoa văn học nước nhà.

Hạ 2014 – Lấp Vò, Đồng Tháp
Trương Vĩnh Khánh

Bàn thêm về từ "Cái"

04:00 |
Lấp Vò, ngày 10 tháng 11 năm 2013              Thầy TRƯƠNG DƯƠNG HOÀNG
                                                                                                            Kính mến!

“TRAO ĐỔI VỚI THẦY TRƯƠNG DƯƠNG HOÀNG”
Bàn thêm về từ “Cái”


- Căn cứ qua bài giảng của tôi tại trường Đại học An Giang, năm học 2012-về Bàn thêm về từ “cái”.
-  Căn cứ kỷ yếu hội thảo “Ngôn ngữ” do Viện Khoa học Xã hội vùng Nam Bộ tổ chức ngày  21/5/2013 tại Đại học An Giang.
-  Căn cứ tham luận của Thạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu.
-  Căn cứ theo “Đại từ điển Tiếng Việt” của Giáo sư Đỗ Hữu Châu Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học Việt Nam xuất bản năm 1998.
Riêng từ “cái” có trên 15 nghĩa lý giải. Tiếng “cái” đt Mẹ (từ cổ) như: con dại cái mang đây là một sự hiểu lầm đáng tiếc vì từ cái là mẹ là không đúng.
Vậy “cái” có nghĩa là gì? Do đâu mà có từ này?
Theo Thạc sĩ Nguyễn Hữu Hiếu đã căn cứ qua các nhà ngôn ngữ học.
Từ “cái” có nguồn gốc từ “kẻ” một loại từ Việt cổ chỉ một đơn vị hành chính cơ sở của người Việt xuất hiện từ thời Hùng Vương, trước khi có sự xâm nhập địa danh hành chính theo kiểu Trung Quốc như: Giáp, Hương, Lý… Và chữ “kẻ” đã biến âm thành chữ “cái”…
-    Theo “Đại Nam Quốc Âm tự vị” của Paulus của Sông cái là Sông lớn.
-    Trong sách Giúp đọc Nôm và Hán Việt của L.m Trần Văn Kiệm.
Cái: lớn, cái: quán tự đứng trước danh từ như: cái nhà, cái Bè…
Riêng nhà Nam Bộ học Sơn Nam trong sách “Văn minh miệt vườn”
Tiếng “cái” đứng đầu: Cái Sắn, Cái Bè, Cái Thia, Cái Mơn… Đồng bào địa phương phát âm lơ lớ không rõ rệt là tiếng “cái” hay là “cải”.
Phải chăng “cái” là “kẻ” theo nghĩa kẻ chợ, kẻ sặt?
Căn cứ “Nguồn gốc dân tộc Việt” người tiền sử từ Châu Phi theo ven biển Ấn Độ - Mã Lai tới Champa vào Việt Nam. Họ mang theo ngôn ngữ của Mã Lai như: cái, bà ba, ba gác…
Theo Bình Nguyên Lộc, tiếng “cái” có nguồn gốc là từ Mã Lai có nghĩa là lãnh tụ là người đàn ông, là hùng mạnh. Trong danh xưng: “Bố Cái Đại Vương” của Phùng Hưng. Chữ “cái” mang ý nghĩa này chứ không phải chữ “cái” là “mẹ” mà từ xưa đến nay người ta đã hiểu nhầm!!
Trong tiếng Mã Lai có từ “Ibu LaKi” có nghĩa là “Bố cái” vì ibu là bố. Ibu laki có nghĩa là nhà lãnh đạo.
Trong một biểu đối chiếu ngôn ngữ do Bình Nguyên Lộc lập (Hội khoa học lịch sử Đồng Tháp) cho ta thấy:

Dân tộc
Chữ tương đương với từ “cái”
Việt
Cái (lớn: sông Cái, kẻ cầm đầu: thợ cái (cả)
Sơ Đăng
Kel (lớn)
Baxa
Akal (quan trọng)
Mã Lai
Laki (đàn ông, hùng mạnh, lãnh tụ, đực…)
Chăm
Li cáy (đàn ông, lãnh tụ, đực.)
Như vậy: “laki” của Mã Lai đã biến thành “li cáy” của Chăm và “cái” của Việt. Trong câu: “Con dại cái mang” có nghĩa là: con hư thì người chịu trách nhiệm là người cha, chứ không phải là mẹ.
Cụm từ: “Đồ lại cái, người lại cái” hoặc “Đàn bà lại cái” rất phổ biển có nghĩa là “đồng tính luyến ái” hoặc “Pê đê” mà ngày nay người ta thường gọi để chỉ những người “bán nam, bán nữ” – Đó là từ do người Chăm mà ra . Các nhà ngôn ngữ học đã xác định như vậy.
Vì người Chăm nói: “Camay lagi licáy” dịch là: “Đàn bà mà lại còn là đàn ông”. Vậy từ “lại cái” là do “li cáy” mà ra.
Do đó, chỉ có thể nói “Đàn bà lại cái” chứ không thể nói “Đàn ông lại cái” vì “cái” ở đây là đàn ông, chứ không phải là đàn bà là mẹ được. Người xưa đã nhầm nay ta lại nhầm nữa sao?!
Người Mường (Hòa Bình) có từ đồng nghĩa với “Kẻ” là “Kuel” cũng có nghĩa là “thủ lĩnh, người cầm đầu”, vừa là đơn vị xã hội cơ sở, tương đương với thôn của người Việt.
Ở thế kỉ thứ 17 từ kẻ còn gặp trong tiếng Việt, nhưng nghĩa đã đổi khác nó có nghĩa là “quê hương”, hay là “xứ sở”, rộng hơn nghĩa cũ của trong địa danh.
Căn cứ theo từ điển Việt – Bồ - La tinh (1651) của Al.DeRodes, có câu “Mày ở kẻ nào?” nghĩa là: “Quê mày ở đâu?” hoặc là: “Mày ở xứ nào?”.
Như vậy theo các nhà ngôn ngữ học, căn cứ qua các tư liệu đã dẫn của các tác giả trên. Từ tố “cái” chữ khởi đầu của một số địa danh có mấy ý nghĩa như sau:
  1. 1.      Cái: có nghĩa là lớn, một tính từ như Sông Cái, đường cái.
  2. 2.      Cái: có nghĩa là sông nhỏ, rạch, một danh từ chung.
  3. 3.      Cái: là một quán từ đứng trước danh từ và tên làng, có quan hệ với “kẻ” một từ vừa chỉ nơi ở, đơn vị cư trú ngày xưa, vừa chỉ người làm (cầm) cái, người cầm đầu, thủ lĩnh nơi đó.

Để tìm hiểu ý nghĩa của từ tố “cái” ngoài các giả thuyết trên, chúng ta cũng nên căn cứ vào thực tiễn một số địa danh của Việt Nam mang từ tố “cái” khởi đầu ở trên mười dạng như sau đây:
(Xin hẹn kỳ sau tiếp)
                                                                                              Kính chúc thầy sức khỏe
                                                                                                              Thân


                                                                                            TRƯƠNG VĨNH KHÁNH